Bài 2: “Đồng chí với nhau, ai nghĩ sẽ đánh nhau“

12 tháng 2 năm 2014

Hoa đào biên viễn

Bài 2: “Đồng chí với nhau, ai nghĩ sẽ đánh nhau“

Một góc pháo đài Đồng Đăng

Một góc pháo đài Đồng Đăng

“Ai cũng chỉ nói chỉ tranh chấp biên giới. Ai cũng chỉ xác định là giữ đất thôi. Tin là đồng chí với nhau, chỉ gây sự, chỉ ghen ghét thế thôi. Chứ anh em đồng chí, ai nghĩ là sẽ đánh nhau”- 35 năm sau, nguyên Bí thư tỉnh Cao Bằng vẫn còn khắc khoải câu chuyện xảy ra năm 1979.

Trận tập kích bất ngờ

Ở Bát Xát, Lào Cai, khi pháo Trung Quốc bắt đầu bắn sang từ phía bên kia biên giới, ông Nguyễn Văn Tuyến, đại đội trưởng tự vệ Đoàn địa chất 305 (Đoàn 5) đang ở Bản Vược, ngay trong tầm súng trường lính Trung Quốc. “Chúng tôi vẫn pha trà uống. Chiến sự vẫn liên miên từ trước đó, đêm nào cũng có tiếng súng, cho nên không ai ngờ Trung Quốc đánh lớn”- ông nói.

Chỉ trước khi cuộc tấn công diễn ra 48 tiếng, cả dân lẫn lính Trung Quốc vẫn “sang bên này” xem chiếu bóng bình thường.

Ông Tuyến từng là lính chống Mỹ, sau chiến tranh làm Phó Chủ tịch HĐND huyện Bát Xát, nhớ lại: Khi pháo Trung Quốc chuyển làn, ông mới giật mình hô anh em vì cảm giác rằng bộ binh Trung Quốc sẽ sang. Mấy người hoảng hốt chạy ra đến đến ngã ba Bản Vược thì khắp nơi đã tràn ngập màu áo lính đang vận động từ phía trong ra điểm chốt của công an vũ trang. “Chúng tôi tưởng bộ đội mình đã lên ngay thành thử súng cầm trong tay mà không bắn”. Từ trong hậu phương, lính Trung Quốc tiến đánh từ phía sau đồn công an vũ trang và chốt tự vệ địa phương. Hỏa lực từ bên kia biên giới bắn sang như mưa rào. Đơn vị ông Tuyến cơ động ra đến chốt Cây 2 thì bị một khẩu đại liên chặn lại. Bấy giờ, anh em vẫn có người giơ súng, giơ cờ vẫy ra hiệu vì vẫn tưởng bộ đội mình bắn nhầm.

Chỉ một lát sau đó, từ khu vực bản Xèo, lính công binh Trung Quốc lao cầu phao và sau đó xe tăng Trung Quốc tiến sang. “Họ đã chuẩn bị sẵn hết rồi. Cây cầu phao thả ra trôi theo dòng nước là áp khít sang bờ bên này”- Lời ông Tuyến.

Tự vệ bản Xèo hy sinh vô số kể. “Chúng tôi chỉ được trang bị trung liên và súng K63. Không có vũ khí chống tăng”- ông Tuyến nói.

Bản Vược cũng là nơi anh hùng liệt sĩ Phan Bá Lại đã ngã xuống khi ôm trọn quả lựu đạn để bảo vệ những người đồng đội, trong khi người chỉ huy cao nhất của Đoàn 5 khi ấy đã đào ngũ ngay sau tiếng pháo đầu tiên.

Ông Nguyễn Mạnh Tường, Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Bát Xát thời điểm tháng 2.1979 đang là lính sư 316, một trong hai sư đoàn chủ lực duy nhất hiện diện ở biên giới phía Bắc.

Sáng đó, đang ở Than Uyên, đơn vị ông có lệnh báo động. Ai cũng tưởng chỉ báo động hành quân dã ngoại, thành thử “có người chỉ mang theo một quả đạn, có người trút lại tượng gạo, và có người, chỉ mang độc một bộ quần áo trên người”.

Đơn vị ông Trường hành quân lên đến Sapa thì những người lính mới biết chiến tranh đã xảy ra, và sau đó chạm địch ngay tại đèo Ô Quy Hồ.

“Hôm đó trời rất lạnh, sương mù dày đặc, chúng tôi đánh trong tình trạng mất hoàn toàn liên lạc khi những chiếc máy thông tin 2W hoàn toàn tê liệt trong sương mù. Mạnh ai nấy đánh, rồi mạnh ai nấy chạy”- trong cái lạnh của tháng 2, ông Trường nới cổ áo khi hồi tưởng lại ký ức 35 năm trước. 218 đồng đội của ông đã hy sinh trong chỉ một trận đánh đó.

Bát Xát là “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt” với những địa danh anh hùng và đau thương: A Mú Sung. Y tý.

Những người lính biên phòng A Mú Sung trong ngày 17 tháng 2 năm ấy, đã đánh đến viên đạn cuối cùng và hy sinh oanh liệt.

Cú đánh trộm của người anh em.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Trần Hùng nhớ lại: Trưa ngày 17, khi một người dân chạy đến đơn vị báo tin xe tăng Trung Quốc đã vào đến Nước Hai, Hòa An, thủ trưởng của ông còn lệnh cho lính “trói nó lại” vì cho rằng người này phao tin đồn nhảm.

Vì sao quân dân ta lại bị bất ngờ trước một cuộc tấn công toàn tuyến với quy mô 32 sư đoàn?

Nguyên bí thư Cao Bằng Vương Dương Tường nhớ lại ở Cao Bằng hôm ấy, quân khu còn đưa các chỉ huy quân sự tỉnh về họp. Không ai biết Trung Quốc đánh mình. Ngay cả khi tiếng súng đã nổ vang từ hướng Hà Quảng, Thông Nông, anh Tập, trưởng ty Thủy lợi băn khoăn nói tiếng súng nhiều lắm, không biết súng ta hay súng địch. Một lãnh đạo Cao Bằng khi đó nói là anh em cứ yên trí. Đó là súng mình.

Ông Tường thừa nhận việc Cao Bằng bị bất ngờ. Khi đó, hoàn toàn không có kế hoạch đánh ở đâu, chặn ở chỗ nào, sơ tán dân ra sao và các cơ quan sẽ chuyển về đâu. Ngay cả khi Trung Quốc áp sát thị xã, tỉnh ủy cũng chỉ cho dân tạm sơ tán ra “cây 5”, tức là ra tạm ngoài tầm pháo 30 ly thôi.

Cơ bản nhất là bấy giờ không ai tin anh em đồng chí lại đánh nhau. Ông Tường nói.

Cao Bằng bấy giờ vừa tách tỉnh. Bí thư chưa nhận việc. Các cơ quan chưa rõ người. Tỉnh ủy không có nổi một chiếc ô tô. Đến 1h đêm, khi pháo bắn dồn dập mới biết là bị đánh. Ông Tường, bấy giờ chạy nhờ xe ra cây số 5 lo chỗ sơ tán cho dân, rồi đi Minh Tâm, Nguyên Bình để thị sát khu vực các cơ quan của tỉnh sơ tán.

Nhưng ngay trong sáng 17, lính Trung Quốc đã ra đến chân đèo Minh Tâm. 2 tiếng sau, xe tăng Bát Nhất đã vào đến Cao Bình, rồi vào đến Nà Tàu. Và pháo binh Trung Quốc dồn dập nã xuống Nà Tản.

“Lúc đó tôi báo về TƯ qua trạm quan sát Khau Giám- ông Tường nhớ lại- Nhưng ngay cả đến lúc đó, các anh ở Trạm nói “chưa thấy có gì”. Ai cũng sợ báo về HN rồi thì bị quy là hoang báo”.

Ngày 18.2, lính Trung Quốc đã vào đến Hòa An, Cao Bình. Đến 19, khắp nơi đã bị đốt phá giết chóc.

Ở Thạch An, khi nhìn thấy xe tăng, cán bộ gọi điện cho tỉnh ủy báo tin có xe tăng nhưng không biết xe ta hay địch. Nó cứ ào ào nó đi, thẳng vào thị xã. Tứ phía tràn vào thị xã.

Cho đến bấy giờ, tỉnh ủy mới quyết định đưa dân sơ tán vào Bàng Khẩu, Ngân Sơn, “chạy vào rừng, ai chạy đâu thì chạy thôi”- lời ông Tường.

“Chúng tôi đã chủ quan- thoáng một nét thở dài trên khuôn mặt cương trực của người bí thư xưa. “Ai cũng chỉ nói chỉ tranh chấp biên giới. Ai cũng chỉ xác định là giữ đất thôi. Tin là đồng chí với nhau, chỉ gây sự, chỉ ghen ghét thế thôi. Chứ anh em đồng chí, ai nghĩ là sẽ đánh nhau”.

Chính một người trong cuộc như ông Tường cũng băn khoăn rằng: Tại sao cuộc chiến tranh lớn thế này, rất nhiều vấn đề như thế mà không tổng kết.

Giá cuộc chiến tranh này được tổng kết, rút kinh nghiệm sẽ có được nhiều bài học tốt lắm. Nếu chúng ta coi như không có chuyện gì dân họ cũng chả nghe đâu”.

Cho đến năm 1992, khi các cơ quan của Bát Xát, Lào Cai từ Mường Vi trở lại Bản Xèo thì “vẫn chỉ có có may và đất đỏ”.

Còn Cao Bằng đã mất 3 năm để lo lại vấn đề lương thực, mất 8 năm để xây dựng lại thị xã và mất 35 năm để vẫn chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Chúng tôi trở lại Đồng Đăng, Lạng Sơn vào đúng ngày lễ Đền Mẫu, lễ lớn nhất Lạng Sơn, nằm ngay dưới chân pháo đài Đồng Đăng. Từ 35 năm nay, mỗi dịp tháng hai, đại tá Triệu Quang Điện, Trưởng phòng cảnh sát truy nã Công an tỉnh Lạng Sơn vẫn đến đây thắp hương tưởng nhớ những người đồng đội của mình.

Ông Điện được phong Anh hùng lực lượng vũ trang sau cuộc chiến tranh biên giới 1979, và sau 35 năm, ông vẫn nhớ như in những cái tên Trần Văn Thái, Vi Văn Cao, những người đồng đội trong tổ tam tam và bữa cháo cơm nếp cuối cùng đêm 16.12.

Đào Tuấn
Đăng Bởi

Comments

No Comments

Leave a reply