Vì sao ít trí thức Việt kiều về nước làm việc?

11 Tháng 7 2010

Nguyễn Quốc Vọng – Từ những năm 1970 Hàn Quốc đã mạnh dạn triển khai chính sách mời gọi trí thức Hàn kiều ở Mỹ trở về đóng góp. Ba mươi năm sau Hàn Quốc vươn lên trở thành nền kinh tế thứ 13 của thế giới… Chỉ có Việt Nam, đã hơn ba mươi năm sau ngày giải phóng, mà vẫn còn loay hoay mãi với câu hỏi về trí thức Việt kiều…

Việt Nam có một lợi thế hơn hẳn so với các nước láng giềng là có khoảng gần 4 triệu người đang sinh sống khắp năm châu mà trong đó khoảng 300,000 người đã tốt nghiệp đại học và sau đại học. Trong số những trí thức Việt Nam này, có nhiều người là những nhà khoa học tên tuổi, chuyên gia đầu ngành hiện đang làm việc tại các đại học, viện nghiên cứu và công ty nổi tiếng ở Mỹ, Úc, Canada, Anh, Hà Lan, Nhật như các đại học Harvard, Standford, Yale, Tokyo, Sydney… các công ty Microsoft, Monsanto, Mitsubishi…

Tuy nhiên vì nền kinh tế Việt Nam được thoát thai từ chế độ bao cấp, doanh nghiệp tư nhân chưa phải là chủ lực, tính cạnh tranh trong thương mại chưa cao nên mối liên hệ giữa viện nghiên cứu, các trường đại học và doanh nghiệp chưa được quan tâm. Vai trò của trí thức, nhất là ở đại học và viện nghiên cứu rất mờ nhạt. Chính vì vậy “kho tàng kiến thức” của những nhà khoa học tên tuổi, những chuyên gia đầu ngành Việt kiều ở nước ngoài không được thực sự quan tâm (thậm chí hầu như bị lãng quên).

Có thể khẳng định, nếu có sự hợp tác về giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu của trí thức Việt kiều, dưới bất cứ hình thức nào, cũng sẽ rất có lợi cho công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hoá đất nước.

Nhưng tại sao cho đến nay vẫn có rất ít trí thức Việt kiều trở về nước phục vụ? Qua thực tiễn 2 năm trở về nước được làm việc, tôi thấy có những nguyên nhân chính sau đây:

► Việt Nam chưa thực sự thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa khoa học kỹ thuật và phát triển kinh tế, nên một số chính sách và cơ chế để thu hút trí thức không được nghiêm chỉnh thực hiện. Một khi trí thức trong nước chưa được sử dụng đúng mức thì việc trở về của trí thức Việt kiều sẽ không bao giờ xảy ra vì họ đang được làm việc trong điều kiện tốt nhất của nước sở tại;

► Chưa làm tốt việc cung cấp thông tin về những vấn đề nhạy cảm (ví dụ như biên giới biển đảo, Hoàng Sa Trường Sa, quặng mỏ bauxit Tây Nguyên…) nên trí thức Việt kiều không thấy được Việt Nam đã có sự thay đổi, tiến bộ về mặt dân chủ, phản biện, tự do tôn giáo, từ đó đâm ra hoang mang, lo sợ… không muốn trở về nước;

► Chưa có đầu mối để tìm tòi, liên lạc, mời gọi… do chính trí thức Việt kiều đảm trách vì trong     hàng trăm, hàng ngàn công nghệ cao của thế giới, phải là người có kiến thức mới có thể lựa chọn những công nghệ tốt nhất, thích hơp nhất và có lợi nhất cho đất nước;

► Thủ tục giấy tờ về nước phải thông qua nhiều Bộ ngành nên rất rườm rà, mất thời gian;

► Tinh thần “vọng ngoại” của một số ít người trong nước vẫn thích “mắt xanh mũi lõ” dù rằng có nhiều khi “mắt xanh mũi lõ” lại ở trình độ khoa học kỹ thuật thấp hơn, không hiểu Việt Nam hơn trí thức Việt kiều;

► Tính “địa phương” và “trong ngoài” còn khá phổ biến, môi trường làm việc dựa nhiều vào cảm tính nên nhiều khi không công bằng, thiếu tin tưởng làm trí thức Việt kiều trở thành những thứ trang trí, không có thực quyền và cơ hội đóng góp sở trường khoa học kỹ thuật của mình.

Từ những năm 1970 Hàn Quốc đã mạnh dạn triển khai chính sách mời gọi trí thức Hàn kiều ở Mỹ trở về đóng góp. Ba mươi năm sau Hàn Quốc vươn lên trở thành nền kinh tế thứ 13 của thế giới. Cũng thế Trung Quốc đã ứng dụng chính sách ưu đãi mời gọi trí thức Hoa kiều, và họ cũng đã tiến rất nhanh trong công cuộc hiện đại hoá công nghiệp hoá đất nước, trở thành nền kinh tế thứ ba trên thế giới. Chỉ có Việt Nam, đã hơn ba mươi năm sau ngày giải phóng, mà vẫn còn loay hoay mãi với câu hỏi về trí thức Việt kiều.

http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=3296&CategoryID=42

GS Vọng hướng dẫn công nghệ trồng rau sạch của Australia tại ĐH Nông nghiệp Hà Nội. Ảnh: V.H.

Góp ý của GS Nguyễn Văn Tuấn

Bài ở trên của anh bạn tôi (Nguyễn Quốc Vọng) lí giải tại sao có ít chuyên gia Việt kiều về nước làm việc.  Bản thân anh Vọng đã về làm việc ở trong nước, nên chắc chắn anh ấy có nhiều kinh nghiệm và có cái nhìn thực tế hơn.  Tuy nhiên, nhìn qua danh sách lí do của anh ấy tôi thấy còn thiếu hơi … nhiều.

Theo tôi, ngoài những lí do anh Vọng đưa ra, tôi còn thấy vài lí do khác.  Có thể chia những lí do mà các chuyên gia người Việt ở nước ngoài ít về nước làm việc thành 2 nhóm: nhóm thuộc về Nhà nước, và nhóm thuộc về chuyên gia Việt kiều.

Về phần Nhà nước:

► Nói nhiều hơn làm. Mấy năm qua Nhà nước ra nhiều quyết định, tuyên bố, kêu gọi, nhưng không có chương trình nào cụ thể; nhiều chương trình tung ra một cách rầm rộ (nhưng hời hợt) rồi chẳng đi đến đâu vì thiếu nghiên cứu;

► Địa phương và trung ương.  Trung ương thì ok về nguyên tắc, còn địa phương lắc đầu, hoặc không biết phải làm gì, đó là chưa kể sự đố kị (và mặc cảm tự ti) của không ít đồng nghiệp trong nước vì họ nghĩ Việt kiều lấy “job” họ;

► Nghi kị. Phải nhìn nhận rằng Nhà nước tuy mĩ từ ở bề ngoài như thế, nhưng phía sau vẫn còn nhiều nghi kị “Việt kiều” (đó là một lí do tại sao Việt Nam thích chuyên gia Tây hơn chuyên gia Việt kiều, hiện tượng mà anh Vọng gọi là “vọng ngoại”);

► Thủ tục hành chính.  Khỏi phải nói, ai cũng biết thủ tục hành chính ở Việt Nam quá kinh hồn để bất cứ ai quen với hệ thống bên này có thể kiên nhẫn vượt qua; đó là chưa nói đến sự vô cảm của nhân viên hành chính (nghĩ đến là phát ngán!)

TS Nguyễn Quốc Vọng và vợ, chị Nguyễn Thanh Tuyền tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

Về phần các chuyên gia Việt kiều:

► Ổn định và bất định. Phần lớn chuyên gia Việt kiều ở ngoài đều đã ổn định sự nghiệp, nhiều người điều hành những chương trình khoa học lớn, nên không muốn phiêu lưu về Việt Nam, nơi mà sự bất định còn quá nhiều, không xứng đáng để họ đánh đổi lấy sự ổn định;

► Đồng lương. Nói gì thì nói, rất khó bỏ một vị trí và công việc với mức lương 100 hay 200 ngàn USD / năm để về Việt Nam với đồng lương 1000 USD/tháng.  Giá nhà ở các thành phố như TPHCM và Hà Nội còn đắt hơn cả ở Úc hay Mĩ, và với cái giá cao ngất ngưởng đó, các chuyên gia rất khó định cư ở Việt Nam;

► Con cái. Phần lớn các chuyên gia đều ở độ tuổi “mùa thu”, với con cái đang học trung học.  Các cháu chưa chắc chịu về Việt Nam học (chưa nói đến chương trình học quá xa lạ với chúng);

► Quan ngại về môi trường làm việc. Môi trường đồng hương thì tuyệt vời (còn gì quí hơn khi sống trong lòng dân tộc!)  Môi trường khoa học chưa tốt (nhưng có thể thay đổi).  Còn môi trường làm việc có thể khó khăn: ở Việt Nam, do cơ chế tổ chức đảng và nhà nước song song nhưng nhập nhằng, nên rất khó đương đầu với cả 2 “sếp”;

► Tham nhũng. Làm khoa học mà đầu óc lúc nào cũng nghĩ đến phải lót tay hay “bôi trơn” thì kinh dị quá;

► Những tấm gương thất bại.  Nhiều chuyên gia từng bỏ bên này về làm việc ở trong nước, nhưng sau đó phải vội vàng cuốn gói đi, và đồng nghiệp ngoài này nhìn đó như là bài học đắc giá.

Vậy biện pháp nào để khắc phục những khó khăn đó? Tôi nghĩ “trái banh” nằm trong khuôn viên của Nhà nước:

► Thay đổi cách làm. Nhà nước nên làm trước rồi hãy nói.  Không nên chỉ nói bằng những ngôn từ hoa mĩ (chỉ để nói suông những triết lí cuộc đời, kiểu “khúc ruột ngàn dặm” hay “quê hương yêu dấu”), mà phải thực hành thì người ta mới tin;

► Thay đổi tư duy.  Không nên bề ngoài thì nói Việt kiều là “khúc ruột ngàn dặm” mà đằng sau thì gọi họ bằng “chúng”, hay thậm chí xem Việt kiều là “phản động”.  Nên chấp nhận khác biệt về quan điểm chính trị xã hội, để cùng làm việc với nhau;

► Thay đổi cách suy nghĩ.  Nhà nước không nên nghĩ mình là người ban phát ân huệ cho Việt kiều.  Đất nước là của mọi người, chẳng của riêng ai.  Dân tộc là trường cữu, còn nhà nước thì có nhiệm kì;

► Giảm thủ tục hành chính.  Điều này thì Nhà nước cũng đã nói nhiều và có quyết tâm, nhưng hình như hiệu quả chẳng đến đâu.  Do đó, cần phải tinh giản thủ tục hành chính chẳng những cho Việt kiều mà còn cả người trong nước;

► Tạo ra những chương trình mới.  Rất khó đem Việt kiều về “lấp” vào một chỗ trống nào đó (vì sẽ bị đố kị ngay), mà phải tạo ra một trung tâm mới để các Việt kiều có thể làm việc. Tôi vẫn nghĩ đến việc lập ra một quĩ fellowship (cho những “Vietnam Fellow”) dành cho những chuyên gia xuất sắc (phải qua bình duyệt) về làm việc một thời gian và xem đó như là một thủ nghiệm, trước khi triển khai lớn hơn (Úc đã làm chương trình này để thu hút Úc kiều và họ hết sức thành công); hay hay hơn hết là

► Lập ra những “làng đại học” như Thái Lan hay Hàn Quốc từng làm.  Những làng này dành cho các chuyên gia và giáo sư đại học giảng dạy hay nghiên cứu trong đại học.

Vài ý nghĩ nhanh chợt hiện trong đầu.  Sẽ suy nghĩ thêm về đề tài này

NVT

http://nguyenvantuan.net/news/6-news/988-vi-sao-it-tri-thuc-viet-kieu-ve-nuoc-lam-viec-

Categories: Education

Tags: ,

Comments

No Comments

Leave a reply

Name *

Mail *

Website